Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

Phỏng vấn: Tiềm năng Fastfood Việt - Diễn đàn CEO



Diễn đàn CEO: Tiềm năng FastFood Việt
Phát trên SCTV8 Kênh truyền hình VITV

Kính chào quý vị và các bạn đang theo dõi chương trình Diễn đàn CEO, phát sóng trên kênh Thị trường – Kinh tế - Tài chính VITV. Thưa quý vị, Cuộc sống hiện đại, người Việt sống nhanh hơn, Thị trường đồ ăn nhanh (fastfood) bị các thương hiệu nước ngoài chiếm lĩnh như KFC, Lotteria, Tuy nhiên, đồ ăn nhanh ở nước ngoài đúng là dành cho khách hàng đến mua để mang đi ăn, còn ở VN đó đơn thuần như một cửa hàng ăn bình thường, mọi người thích đến ngồi ăn hơn là mang về, và ngồi khá lâu, chứ không hề nhanh. Ở bầu thì tròn ở ống thì dài, có lẽ bất cứ thương hiệu nào khi vào một thị trường mới cũng phải thay đổi đôi chút để thích ứng được với thị hiếu của thị trường đó. Ở VN, diện tích các cửa hàng fastfood phải rộng hơn để cho khách hàng ngồi lại lâu.…
Để cùng nói về chủ đề trên, chúng tôi xin mời quý vị cùng gặp gỡ các vị khách mời là ông Hoàng Tùng, Sáng lập viên/Quản lý của thương hiệu ăn nhanh Việt Nam Pizza Home Hanoi đến với chương trình:

¬Phần I: Khái niệm về đồ ăn nhanh tại Việt Nam

Phóng sự về khái niệm đồ ăn nhanh
1.         Khái niệm đồ ăn nhanh hình như bị hiểu sai ở VN, anh có nghĩ như vậy không?

-Theo tôi, khái niện đồ ăn nhanh tại Việt Nam bị hiểu sai ở mấy điểm:
Thứ nhất, khi những nhãn hàng đồ ăn nhanh nước ngoài bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam như KFC, Burger King, Subwway, Lotteria v.v… xuất hiện tại Việt Nam, họ đều có một chiến lược về hình ảnh rất tốt. Dễ thấy nhất là những địa điểm có mặt bằng đẹp như là mặt giữa ngã ba, ngã tư, trong những trung tâm thương mại hạng sang. Chưa kể, họ có sự đầu tư về cơ cở vật chất, bài trí trông rất hiện đại và bắt mắt. Đó là lý do khiến chúng ta nghĩ rằng đồ ăn nhanh là  mặt hàng sang trọng. Đó là điểm sai lầm thứ nhất. Đồ ăn nhanh là mặt hàng bình dân chứ không phải mặt hàng sang trọng.
Thứ hai, có nhiều khái niệm về đồ ăn nhanh tuy nhiên có thể tựu chung lại ở mấy điểm sau, để đạt được tiêu chuẩn là một nhà hàng ăn nhanh, nhà hàng đó phải đáp ứng điều kiện về thời gian nấu món, nghĩa là từ khi khách yêu cầu cho đến khi món ăn ra đến bàn của khách, thường thi không được phép dưới 15 phút. Ngoài ra, khách hàng khi sử dụng dịch vụ tại nhà hàng ăn nhanh thường không ngồi quá 45 phút. Bởi vì nguyên lý của nhà hàng ăn nhanh là làm nhanh – ăn nhanh. Điều đó tạo nên lợi thế của ngành coog nghiệp này, đó là tính quay vòng lượng khách trên một mặt bằng là rất cao. Tuy nhiên, văn hóa của nước ta có nhiều điểm không tương thích với khái niệm ăn nhanh bởi ngàn năm qua chúng ta là văn hóa nông nghiệp trong khi đồ ăn nhanh khởi nguồn từ cuộc cách mạng công nghiệp. Đó là lý do nhiều người Việt chúng ta vẫn vào những nhà hàng ăn nhanh nhưng ăn rất chậm.
Theo tôi, hai yếu tố trên là những nhầm lẫn lớn nhất của chúng ta về đồ ăn nhanh. Phải khẳng định lại, đồ ăn nhanh là món bình dân chứ không phải sang trọng và đồ ăn nhanh phải ăn nhanh chứ không phải ăn chậm. 

2.         Như vậy rõ ràng là người Việt Nam tìm đến fastfood không phải vì nhanh mà vì một khẩu vị lạ, hấp dẫn?

Tôi nghĩ rằng người Việt tìm đến đồ ăn nhanh bởi một vài nguyên do chính yếu sau:
Đầu tiên, ta phải thừa nhận ăn nhanh là một làn sóng cách mạng văn hóa về ẩm thực ở quy mô toàn cầu. Chúng ta biết rằng thức ăn nhanh khởi điểm ở Mỹ vào những năm 30. Sau gần 100 năm phát triển, nó đã trở thành một ngành công nghiệp hùng mạnh bậc nhất thế giới và có mức tăng trưởng ổn định bậc nhất thế giới. Vi dụ như Doanh thu của riêng thương hiệu Mc Donald’s có thể sánh ngang với GDP của một quốc gia nhỏ. Hoặc theo một thống kê thì có tới 80% thanh niên Mỹ đều đã làm qua một công việc tại một nhà hàng ăn nhanh. Đó là một ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận khổng lồ, kích thích kinh tế một cách mạnh mẽ và mang lại công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động. Và nói không ngoa thì đồ ăn nhanh có thể được coi là một cuộc cách mạng vể ẩm thực ở tầm vóc toàn cầu. Người ta có thể thích nó, có thể ghét nó nhưng không thể né tránh nó.
Sau nữa, ta phải thừa nhận rằng những món ăn nhanh có khẩu vị khá phù hợp với đại đa số người dân. Chúng ta đều biết đến một trong những công cụ rất mạnh, giúp cho sự phát triển của đồ ăn nhanh có sức lan tỏa mãnh liệt, đó chính là nhờ vào công cụ nhượng quyền kinh doanh. Nhượng quyền kinh doanh là một trong những cách thức nhanh nhất để chuỗi nhà hàng phát triển một cách bài bản với sự chuẩn hóa cao độ về hình ảnh và sản phẩm. Một điều ta phải thừa nhận là để có thể phát triển được ở quy mô toàn cầu trước khi lan đến nước ta, các sản phẩm ăn nhanh đã chinh phục khẩu vị của nhiều dân tộc khác. Điều này biến sản phẩm ẩm thực ăn nhanh có vị thế và khẩu vị quốc tế. Nghĩa là nó có tính tương thích cao, vượt qua biên giới hành chính, không phân biệt quốc gia, dân tộc. Đó là lý do người Việt cảm thấy phù hợp với khẩu vị của đồ ăn nhanh cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu.
Cuối cùng, tôi muốn chia sẻ ở đây là tính lạ trong sản phẩm. Phần lớn những sản phẩm ăn nhanh đến Việt Nam đều đã là những sản phẩm có đẳng cấp và thương hiệu ở tầm quốc tế. Nó hoàn toàn đáp ứng hai yếu tố của người dân nước ta: đó là chuộng lạ và chuộng ngoại. Đồ ăn nhanh là một cái gì đó vừa lạ so với văn hóa truyền thống Việt Nam, lại vừa có yếu tố ngoại. Tôi cũng muốn chia sẻ thêm là theo đánh giá của các cuộc nghiên cứu tâm lý thị trường thì người Việt chúng ta rất chuộng đồ ngoại. Đây cũng là nhân tố rất đặc trưng khiến các thương hiệu nước ngoài luôn đánh giá Việt Nam là một thị trường tiềm năng, cả về mặt dân số học và tâm lý học

3.                  Tại sao fastfood xuất hiện ở Việt Nam rất muộn? Trong khi các nước khác đã có thị trường fastfood từ 8 đến 10 năm trở lại đây?

Thực ra thị trường đồ ăn nhanh không chỉ phát triển ở các nước khác từ 8-10 năm. Ngành công nghiệp đồ ăn nhanh gắn với sự phát triển của cách mạng công nghiệp. Nghĩa là nó khởi phát từ đầu thế kỷ 20. Mô hình đồ ăn nhanh khi đó xuất phát điểm là những cửa hàng/ nhà hàng, bán đồ ăn cho những người lái xe. Và những người lái xe thì không có nhiều thời gian. Họ chỉ dừng lại trong phút chốc, mua lấy đồ và nhanh chóng tiếp tục lên đường, có khi vừa lái xe vừa ăn. Thời kỳ đó người ta đã bắt đầu nghĩ ra nhiều cách để tăng tốc độ phục vụ. Đó là giảm thiểu các món ăn trên menu. Đó là quy trình hóa từng bước chế biến thực phẩm. Đó là sơ chế sẵn đến 90% trước khi thực sự bán hàng. Thậm chí những bộ phim tư liệu còn cho thấy nhân viên của một số nhà hàng còn được trang bị giày trượt pa tanh để có thể lướt nhanh, phục vụ khách tốc độ hơn.
Đến những năm 60-70, mô hình chuỗi nhà hàng ăn nhanh thực sự mở rộng với ý tưởng nhượng quyền kinh doanh – theo tiếng Anh là Franchising. Nhượng quyền kinh doanh được coi là một trong những công cụ phát triển kinh doanh quyền lực bậc nhất thế giới. Người ta còn gọi đây là mô hình xây dựng doanh nghiệp chìa khóa trao tay. Với công cụ nhượng quyền kinh doanh, ta chứng kiến hàng loạt thương hiệu ẩm thực có những bước phát triển thần tốc, tạo nên những thương hiệu nằm trong danh sách những thương hiệu có giá trị bậc nhất thế giới như Mc Donald’s, Gà rán KFC, Pizza Hut, Domino’s Pizza, Subway, Burger King, BBQ v.v… Những thương hiệu đó đã biến ngành thức ăn nhanh trở thành một ngành công nghiệp có doanh thu bùng nổ, không kém bất cứ ngành công nghiệp nào khác trên thế giới.

4.                  Anh có thể cho biết sự khác biệt giữa chuỗi cửa hàng và fastfood không?

Có hai khái niệm mà chúng ta khá dễ nhầm lẫn, đó là chuỗi nhà hàng và fast food. Có thể nói, những thương hiệu đồ ăn nhanh nổi tiếng nhất thế giới đều phát triển theo dạng chuỗi nhà hàng. Đặc biệt, những chuỗi nhà hàng nhượng quyền thường gắn với sản phẩm ẩm thực ăn nhanh. Lý do vì sự tinh gọn trong sản phẩm cũng như quá trình nhượng quyền và chuyển giao công nghệ thường nhanh gọn và đơn giản hơn so với những sản phẩm ẩm thực khác. Tuy nhiên, trên thế giới cũng chứng kiến khá nhiều chuỗi nhà hàng nổi tiếng nhưng không phải là nhà hàng ăn nhanh. Ta có thể kể đến những cái tên như Red Lobster, Season 52. Ở thị trưởng Việt Nam, cũng có nhiều chuỗi nhà hàng nhưng không phải là chuỗi nhà hàng bán đồ ăn nhanh như Lẩu bằng chuyền Kichi Kichi, Lẩu nấm Ashima, Sumo BBQ v.v…
Ngoài ra, có nhiều sản phẩm ăn nhanh nhưng chưa phát triển được thành chuỗi nhà hàng. Ở Hà Nội có thương hiệu rất nổi tiếng như Xôi Yến. Xôi Yến có đầy đủ đặc thù của một sản phẩm ăn nhanh, từ tốc độ phục vụ cho đến thời gian khách ngồi ăn uống tại đó. Rất nhanh. Tuy nhiên, rõ ràng đó không phải là một chuỗi nhà hàng và còn quá xa để có thể vươn tới tầm cỡ của một chuỗi nhà hàng để có thể nhượng quyền kinh doanh.

5.                  Anh chọn tiêu chí nào để phát triển ý tưởng kinh doanh của mình? (khẩu vị lạ hay đáp ứng nhu cầu nhanh, tiện lợi, hay cả hai?)

Tôi là người tham lam nên tôi sẽ trả lời là cả hai. Có một điều ta luôn ngộ nhận, đó là chỉ những cái gì độc, kỳ công mới là ngon, theo tôi điều đó không đúng. Nếu chúng ta chứng kiến nguyên quy trình chọn khoai để có thể làm ra những suất khoai chiên bình thường của Mc Donald’s, ta sẽ thấy rằng họ nghiên cứu, lựa chọn sản phẩm cực kỳ công phu để làm ra một món ăn rất bình thường: khoai tây chiên.
Theo tôi, đứng ở góc độ một người làm marketing và kinh doanh trong lĩnh vực ẩm thực thì một sản phẩm phải đạt được cả hai yếu tố: tiện lợi và ngon miệng mới có khả năng chiến thắng trong cuộc cạnh tranh khắc nghiệt toàn cầu.
Hãy thử tưởng tượng bạn bước vào một nhà hàng sang trọng, dịch vụ cực kỳ tốt, nhân viên xinh đẹp, lễ độ. Tuy nhiên bạn ngồi chờ đến nửa tiếng mà đồ ăn chưa được mang lên vì quy trình chế biến quá cầu kỳ. Cho đến khi món ăn được bưng ra thì bạn đã trở nên nổi cáu vì chờ đợi quá lâu rồi. Thế thì làm sao mà còn có thể thưởng thức món ăn ngon kia được?
Khi chúng ta đang sống trong một thế giới phẳng, một ngôi làng toàn cầu, nơi mọi biên giới hành chính đều trở nên lu mờ, nơi mọi người dân đều có thể được hưởng một sản phẩm ẩm thực vừa ngon miệng, vừa tiện dụng thì nếu thiếu một trong hai yếu tố đó, tôi đều nghĩ rằng sản phẩm dù có ngon đến mấy cũng không thể thành công.

6.                  Nếu suy nghĩ một chút, thì VN có rất nhiều món ăn có thể thành fastfood được nếu hiểu đúng theo tiêu chí là fast, ví dụ như xôi, cơm nắm, bánh giày, bánh khúc, bánh mỳ, trà chanh... Anh có đồng ý với quan điểm này không? Hay cái gì đã là dân giã thì không thể phát triển theo kiểu frachising được nữa?

Tôi vừa đồng ý, vừa không đồng ý với ý kiến trên. Trước tiên, có thể nói rất nhiều món ăn dân dã của Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn của một món ăn nhanh: nghĩa là quá trình chế biến nhanh đồng thời người ăn trong một khoảng thời gian cũng rất nhanh. Tuy nhiên, vấn đề những sản phẩm đó không thể phát triển được theo kiểu nhượng quyền, không phải từ nguyên do đó là sản phẩm dân dã. Nguyên do nằm ở những vấn đề hoàn toàn khác.
Trước tiên, đa số những người nắm giữ những bí quyết làm các đồ ăn dân giã ngon miệng đều không có tư duy nhượng quyền: nghĩa là sẵn sàng chia sẻ bí quyết thành công, sẵn sàng mở rộng thương hiệu, trao những bí quyết về sản phẩm cho người khác. Rất nhiều thương hiệu ẩm thực dân giã của Việt Nam đi lên từ hai chữ: “gia truyền”. Ví dụ bánh khúc cô A, xôi cô B, cháo bà C, phở ông D. Và những người đang nắm giữ những thương hiệu này họ chỉ truyền lại cho người thân trong gia đình mà không có ý định mở rộng thương hiệu cho người khác.
Ngược lại, có thể nói món ăn dân giã của ta có quá nhiều nhưng lại quá ít thương hiệu đã đủ mạnh để có thể nhượng quyền được. Để có thể nhượng quyền một thương hiệu ẩm thực, đòi hỏi người bán nhượng quyền phải xây dựng được một chuỗi nhà hàng đủ lớn, một thương hiệu đủ mạnh, chứng minh được khả năng thành công dễ dàng. Nghĩa là bên mua nhượng quyền có được một đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản bởi bên bán nhượng quyền, chưa kể là kèm cùng với đó là hệ thống máy móc, hệ thống quản lý nhân sự, hệ thống sổ sách kế toán, hệ thống marketing bài bản. Nói là đã có sản phẩm dân giã nào của ta đã xây dựng được những tiêu chuẩn trên hay chưa? Tôi nói rằng chưa! Và đó là lý do mà những sản phẩm dân giã của ta hoàn toàn đáp ứng được yếu tố là đồ ăn nhanh nhưng còn xa mới có thể đạt tới tầm của một thương hiệu mạnh đủ để nhượng quyền thương hiệu.

7.                  Những điểm hạn chế nào để một món ăn dân giã VN có thể trở thành món ăn theo đúng tiêu chí fastfood?

Theo tôi, món ăn dân giã Việt Nam không có hạn chế để trở thành một món ăn theo đúng nghĩa tiêu chí đồ ăn nhanh. Điều chúng ta thiếu là thiếu những cái đầu doanh nhân, những con mắt làm thương hiệu để có thể biến những tài nguyên đó trở thành những thương hiệu đồ ăn nhanh có giá trị.
Chúng ta đã thấy Việt Nam nổi tiếng với món phở. Đã có biết bao nhiêu thương hiệu phở nổi tiếng, thương hiệu phở gia truyền. Tuy nhiên cần phải có những doanh nhân như Lý Quý Trung thì phở mới có thể biến thành Phở 24, mới có thể tạo thành những cửa hàng có thương hiệu đủ mạnh, có quy trình đủ mạnh để có thể trở thành chuỗi cửa hàng nhượng quyền, mang thương hiệu Phở của Việt Nam đến các quốc gia khác.

Tiềm năng về đồ ăn nhanh tại Việt Nam

¬Phần II: Tiềm năng kinh doanh, phát triển đồ ăn nhanh tại Việt Nam

1.                  Một thương hiệu mang tầm khu vực và quốc tế, anh có nghĩ đến không?

Tôi nghĩ rằng các nước trong khu vực đã có những thương hiệu ẩm thực của họ và được thế giới thừa nhận rộng rãi. Những thương hiệu đó đã tạo thành những chuỗi nhà hàng lớn, tạo công ăn việc làm và đóng góp rất nhiều tiềm lực cho đất nước. Ngoài ra, nếu như ta coi thương hiệu là những đại sứ văn hóa của một quốc gia thì có thể nói những thương hiệu ẩm thực đạt tầm khu vực và quốc tế sẽ là những đại sứ văn hóa mang quyền lực mềm của Việt Nam đi khắp thế giới. Các bạn đã thấy Thái Express, thấy BBQ Chicken ở quanh bờ hồ Hoàn Kiếm. Đó đều là những thương hiệu ẩm thực chỉ ở tầm khu vực. Sản phẩm của họ có quá khó để thực hiện không? Không hề khó! Tôi tin là người Việt hoàn toàn có thể tạo ra được những sản phẩm ngon hơn những sản phẩm đó.
Vấn đề ta thường mắc phải sau khi có được một sản phẩm vượt trội, đó là tính hệ thống hóa và chiến lược làm thương hiệu đúng đắn. Nếu hoàn thiện nốt hai khâu này, ta hoàn toàn có thể kỷ vọng vào những thương hiệu ẩm thực Việt Nam ở đẳng cấp khu vực, thậm chí ở đẳng cấp quốc tế. Tại sao lại không thể?

2.                  Anh đánh giá thế nào về tiềm năng thị trường fastfood của VN? Đâu là điểm hạn chế?

Tiềm năng thị trưởng fast food tại Việt Nam ra sao thì hãy xem thử câu trả lời từ những thương hiệu ẩm thực hàng đầu trên thế giới. Các bạn có thể thấy KFC phát triển mạnh mẽ như thế nào? Đó là chưa kể sự bành trướng của hàng loạt thương hiệu đình đám khác như Pizza Hut, như Mr. Pizza, như Subway, như Burger King... Những thương hiệu đó đều đổ dồn về nước ta với những chiến lược phát triển quy mô lớn. Điều đó cho thấy tiềm năng thị trường đồ ăn nhanh của nước ta còn rất lớn, rất rất lớn.
Điểm hạn chế duy nhất tôi nhìn thấy ở đây, đó chính là sự thiếu vắng của những thương hiệu đồ ăn nhanh có quốc tịch Việt Nam. Xét về một góc độ nào đó, chúng ta đang bị thống trị trên chính đất nước ta.

3.                  Khách hàng tìm đến thương hiệu của anh thường là vị tò mò và lạ vì tên gọi sản phẩm của anh đã thể hiện điều đó, điều gì sẽ giữ họ lại thành khách hàng trung thành của anh?

Tiêu chí hoạt động của Pizza Home chỉ bao gồm ngắn gọn ba chữ cái NNS. Chữ N đầu tiên là Ngon. Một sản phẩm ẩm thực đầu tiên muốn tồn tại và phát triển phải bắt buộc đạt được tiêu chí NGON. Chất lượng món ăn chính là yếu tố quyết định giữ chân khách hàng, khiến khách hàng quay trở lại với mình. Chữ N thứ hai là NHANH. Pizza Home được ra đời dựa trên nền tảng là một nhà hàng bán đồ ăn nhanh. Ở đây, chúng tôi chú trọng nhất đến việc đồ ăn phải được thực hiện nhanh nhất, từ lúc nhân viên ghi yêu cầu đồ ăn của khách hàng cho đến khi món ăn được hoàn thiện mang đến cho khách hàng. Tất cả quy trình đó cần phải được rút gọn, quy chuẩn để làm sao khách hàng có thể có được món ăn của mình một cách NHANH nhất. Chữ S cuối cùng là SẠCH. Khi mà người dân đang hoang mang trước rất nhiều về chuyện thực phẩm bẩn, về thực phẩm không an toàn thì yếu tố SẠCH làm một trong những điểm mà Pizza Home cam kết thực hiện, nghĩa là đồ ăn đồ uống có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, được chế biến cẩn thận để đảm bảo khách hàng có những món ăn sạch sẽ. Tóm lại NNS chính là tiêu chí Nhanh – Ngon – Sạch luôn được tôi nhắc đi nhắc lại hàng ngày với đội ngũ nhân viên của mình.

4.                  Một câu hỏi cá nhân dành cho anh, tại sao lại là Pizzza? Pizza là một món ăn của nước ngoài, trong khi Việt Nam có rất nhiều món ăn có thể gọi là fastfood, điều gì khiến anh kinh doanh Pizza?

Điều đầu tiên có thể nói rằng tôi rất thích món pizza. Thứ hai, trên thị trường còn rất ít những thương hiệu pizza của người Việt dành cho người Việt. Những đồ ăn khác, có rất nhiều người giỏi hơn tôi. Trong lĩnh vực làm pizza và làm thương hiệu pizza, tôi có nhiều lợi thế hơn. Tôn Tử có nói nói: “bạn phải chọn chiến trường mà bạn hiểu biết và có lợi thế nhất”. Doanh nhân Steve Jobs, đó là “bạn phải làm điều bạn say mê”. Đó là hai lý do tôi chọn pizza và khởi tạo thương hiệu Pizza Home Hanoi.

5.                  Đối tượng khách hàng anh hướng đến là ai?

Tại Hà Nội có không ít những thương hiệu pizza nổi tiếng như Peperonis, như Pizza Hut. Tôi chọn một phân khúc khách hàng khác biệt. Bởi vì Pizza Home chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào nên chúng tôi có thể tạo thành sản phẩm với giá cả cạnh tranh hơn rất nhiều. Ngoài ra, những thương hiệu như pizza khác đều được xây dựng khá sang trọng. Với lợi thế về mặt chủ động trong nguồn nguyên liệu, chúng tôi chọn phân khúc khách hàng trẻ tuổi, năng động. Từ đó, Pizza Home được bài trí rất trẻ trung, phá cách và hoàn toàn khác biệt so với những nhà hàng pizza khác. Với một mức chi phí cho một bữa ăn chỉ từ 50-70.000/lần sử dụng dịch vụ và bài trí rất trẻ trung, Pizza Home là một địa chỉ rất phổ biến dành cho các bạn học sinh, sinh viên, đối tượng văn phòng, nói chung là đối tượng trẻ tuổi. Theo tôi, đây là đối tượng đầy tiềm năng và sẽ là tập khách hàng mục tiêu mà Pizza Home Hanoi theo đuổi.


Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

SỰ CẦN THIẾT CHO CÔNG VIỆC INTERNET MARKETING CHO DOANH NGHIỆP NGÀY NAY

Internet marketing-Sự cần thiết cho việc phát triển thương hiệu cùng với sự bùng nổ và phát triển của internet thì Internet marketing cũng chính là 1 trong các công cụ hữu hiệu để cho các doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp và giới thiệu sản phẩm của mình đến khách hàng và người tiêu dùng. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn mà Internet marketing vẫn tăng trưởng 50% 1 năm thì đây quả là 1 con số ấn tượng, tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng sử dụng hiệu quả công cụ Internet marketing.

Ở Việt Nam Internet marketing còn đang ở giai đoạn sơ khai, nhưng trên thế giới đây là kênh đã phát triển mạnh mẽ, đang đe dọa ngay cả quảng cáo trên truyền hình – ngành quảng cáo vua gần 100 năm qua.

http://internetmarketinglanphan.blogspot.com

Internet marketing tại Việt Nam mới phát triển mạnh trong vòng 6 năm gần đây cũng là thời kỳ số ngời dùng internet ở Việt Nam tăng trưởng ngoạn mục từ dưới 10 triệu cho đến hơn 30 triệu người dùng, đây là 1 điều kiện rất tốt cho Internet marketing phát triển. Tuy nhiên, cũng còn những rào cản và 1 trong số đó chính là nhận thức về vai trò của Internet marketing, bên cạnh đó là những kiến thức, hiểu biết, những nhà cung cấp tốt để triển khai hiệu quả. Đó là 1 bài toán chia làm 2 giai đoạn: đào tạo thị trường và xây dựng thị trường, phát triển thị trường. 

Chúng ta phải ghi nhận rằng cái giai đoạn đầu ấy là 1 giai đoạn tạo đà. Nhưng cũng có những con số đáng nói. Năm 2006, tỷ trọng Internet marketing trong tổng doanh số của ngành truyền thông quảng cáo của Việt Nam chỉ là 0.5%, tổng doanh số của các cty trong ngành này chỉ khoảng 50 tỷ. Đến năm 2011 con số đã lên khoảng 800-900 tỷ tăng trưởng đến gần 20 lần.

http://internetmarketinglanphan.blogspot.com

Tại Việt Nam hiện tại đây là một bức tranh có những điểm sáng nhưng chưa phải là toàn bộ sáng. Một số doanh nghiệp khá nhạy bén và tiến bộ biến Internet marketing trở thành 1 công cụ đắc lực để phát triển thương hiệu và thúc đẩy doanh số. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang học cách làm Internet marketing. Chính vì vậy còn rất nhiều tiềm năng, cơ hội cho các doanh nghiệp tìm ra cách hiệu quả sử dụng Internet marketing, cơ hội cho các đơn vị cung cấp dịch vụ trong ngành này để đào tạo thị trường tốt hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn và có được nhiều khách hàng và doanh số. 

Ở môi trường internet quyền lực của người mua hàng lớn hơn rất nhiều họ dễ dàng lựa chọn “cửa hàng” của bạn nhưng cũng dễ dàng dời đi. Chính vì thế nếu chất lượng chưa ổn, website chưa ổn mà đi quảng bá thì không nên. 

Mời các bạn tìm đọc bài viết "Tiềm năng phát triển Internet marketing tại Việt Nam"
Nguồn  tổng hợp
Lan Phan

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Người đưa Internet về Việt Nam: "Quản lý là thúc đẩy phát triển chứ không phải kiểm soát"

Tư duy quản lý phải thúc đẩy sự phát triển, chứ không chỉ theo kịp hay lo kiểm soát như hiện nay.

Tiến sĩ Mai Liêm Trực - nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông. Tiến sĩ Mai Liêm Trực - nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông.
Trong buổi giao lưu nhân kỷ niệm 15 năm thành lập Internet, tiến sĩ Mai Liêm Trực - nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông - đã cho rằng, Internet ở Việt Nam nên có tư duy quản lý 3.0 – trong đó tư duy phải thúc đẩy sự phát triển, chứ không chỉ theo kịp như hiện nay.
Giá cước Internet đã rẻ đi 100 lần
Đánh giá Internet sau 15 năm phát triển, ông Trực nhận định Internet Việt Nam đã có sự bùng nổ từ con số 0 lên một con số đáng kinh ngạc 31 triệu người dùng. 
Giá cước Internet của Việt Nam cũng giảm mạnh. Năm 1997, giá cước Internet là 400 đồng/phút, nếu so sánh thì giá cước bây giờ thấp hơn 100 lần so với 15 năm trước.  Internet đã giúp thị trường viễn thông từ độc quyền sang cạnh tranh. Những đột phá về Internet đã giúp mở cửa thành công thị trường viễn thông.  
Với sự hỗ trợ của công nghệ, mức độ phổ cập các dịch vụ Internet cũng tăng rất nhanh và tác động mạnh mẽ vào cuộc sống của chúng ta. Tất cả mọi hoạt động, từ làm việc, học hành, cho đến vui chơi giải trí đều cần tới Internet.
“Còn nhớ thời điểm chưa có Internet, Đảng và Nhà nước yêu cầu đưa những tờ báo như Nhân dân, lao động đến đồng bào ở châu Âu, Bắc Mĩ để mọi người hiểu về chính sách, nhưng không làm được. Phát thanh, truyền hình cũng không thể với tới. Nhưng ngày nay, với sự phát triển của Internet, điều này hoàn toàn dễ dàng. Hiện tại có hàng trăm website chính thức của Chính phủ trên Internet để mọi người truy cập”, ông Trực cho biết.
Không có thế giới “ảo”
Trước dưa luận cho rằng, Internet bên cạnh những mặt tích cực, cũng có những mặt tiêu cực cho người dùng. Điển hình là những thông tin sai lệch, méo mó trên Internet đang ảnh hưởng đến không chỉ người trẻ mà còn cả kinh tế, xã hội. Ông Trực cho rằng, Internet là môi trường nhân tạo lớn nhất của con người từ trước đến nay. Nó đang tác động đến 2,3 tỉ người dùng trên thế giới. Ở Việt Nam, Internet không chỉ tác động đến 30 triệu người đang sử dụng mà còn có những tác động đến cả 90 triệu người dân.
Thông tin tràn lan trên Internet là do con người cung cấp chứ bản thân nó không tự đưa ra được. Trước khi có Internet, người ta truyền thông tin cho nhau qua báo chí, truyền khẩu, photocopy,… Với môi trường mạng, thông tin được truyền đi dễ dàng hơn.
“Cuộc sống online, cuộc sống trên mạng, tất cả đều là thực chứ không hề có cái gì gọi là “ảo” ở đây. Những vấn đề, nguyên nhân trên mạng đều bắt nguồn từ thế giới thực được đưa lên Internet, mọi vấn đề trên Internet đều có nguồn gốc, là vấn đề của thế giới thực. Điều quan trọng nhất đó là phải nâng cao năng lực người sử dụng, hướng dẫn, nâng cao dân trí để họ tự bảo vệ mình", ông Trực nhận xét
Tư duy quản lý 3.0
Đánh giá việc quản lý Internet trong 15 năm qua, ông Trực cho rằng, đã đến lúc những biện pháp quản lý của Nhà nước cần thay đổi. Quản lý Internet của Nhà nước đã qua 3 thời kỳ.
Thời kỳ đầu, Internet bị kiểm soát rất chặt, Nhà nước quản lý đến đâu mới mở rộng đến đấy. Nó khiến hơn 2 năm đầu Internet vào Việt Nam không phát triển được, các quán Internet cafe, đại lý Internet không được mở ra vì không được cấp phép. Đến thời kỳ thứ 2, quản lý đã bắt đầu phải chạy theo sự phát triển.
“Tuy nhiên, quản lý không chỉ nên dừng lại ở đó, mà phải tiếp tục cải tiến hơn, trở thành tư duy  3.0: Đó là quản lý phải có tư duy thúc đẩy phát triển chứ không phải chỉ theo kịp, chỉ lo kiểm soát như trước”, ông Trực cho biết.
 Theo ông, quản lý Internet là để thúc đẩy Internet phát triển chứ không phải hạn chế phát triển. Tư duy quản lý làm sao để Việt Nam không chỉ mạnh lên về CNTT, mà viễn thông, internet, ứng dụng CNTT còn hỗ trợ các ngành khác phát triển thao. Tăng cường sức mạnh của CNTT là tăng cường sự phát triển của các ngành công nghiệp khác, của văn hóa xã hội, chứ không chỉ riêng CNTT”
“15 năm, từ con số 0 ta đã phát triển lên đến hơn 31 triệu người dùng. Hiện tại thị trường vẫn còn 60 triệu người còn lại cần được Internet tiếp cận. Cáp quang đã được nối đến trường học, đã có rồi, nhưng chúng ta phải làm sao để giáo viên, học sinh có thể sử dụng được. Cơ sở hạ tầng băng thông rộng mà chúng ta đang phát triển phải được ứng dụng tất cả mọi người trong xã hội, giao tiếp vui chơi giải trí”, ông Trực nói.
Trang Lam
Theo TTVN
Cập nhật internet marketing vz

Email marketing: Bí quyết viết tiêu đề ấn tượng



Khám phá tâm lý khách hàng
Những nhà văn tài năng luôn hiểu rất rõ những bí quyết sử dụng ngôn từ có sức thuyết phục mạnh mẽ khi đặt tiêu đề cho bài viết. Bí mật ở đây là gì? Đó chính là động lực. Bạn cần biết cách làm thế nào để truyền cảm hứng cho mọi người. Nhà tâm lý học Abraham Maslow phân tích rằng hành vi con người luôn luôn là kết quả của một hoặc nhiều nhu cầu trong tháp 5 nhu cầu. Dưới đây là những liệt kê về tháp nhu cầu của Maslow:
  • Nhu cầu sinh lý (Physiology) – nhu cầu ăn, uống, ngủ, nơi ở, quần áo và tình dục.
  • Nhu cầu an toàn (Safety) – cảm giác yên tâm không phải lo sợ với những nguy hiểm cận kề.
  • Nhu cầu tình cảm và thuộc về (Belongingness and love) – muốn được thuộc về một nhóm, nhu cầu cần được yêu thương, chăm sóc, muốn có gia đình, bạn bè tin cậy.
  • Nhu cầu được tôn trọng (Esteem) – nhu cầu được thăng tiến, được công nhận và phát triển năng lực bản thân.
  • Nhu cầu thể hiện bản thân (Self-actualization) – biết chính xác bạn là ai, bạn đang đi đâu và bạn muốn hoàn thiện những gì.
Con người luôn được thôi thúc bởi mong muốn đáp ứng những nhu cầu của họ. Vì vậy, bí quyết để viết tiêu đề mạnh mẽ là thông qua bài viết, bạn có thể giải quyết ít nhất một trong những nhu cầu này. Một tiêu đề hấp dẫn tác động rất lớn đến độc giả. Dưới đây là danh sách các từ có liên quan đến một trong 5 nhu cầu cơ bản, do đó chúng là những từ ngữ rất mạnh mẽ.
Hãy nhớ rằng bạn chỉ có một vài giây để gây sự chú ý với bạn đọc, vì vậy những tiêu đề đầu tiên của bạn phải thuyết phục và gây ấn tượng nhất. Nếu không cho khán giả của bạn một lý do mạnh mẽ để tiếp tục đọc, họ sẽ nhanh chóng chuyển sang cái khác. Các chiến lược sau đây là cực kỳ hiệu quả để viết tiêu đề có sức thuyết phục.
Nhắm trực tiếp vào thị trường mục tiêu
“Tất cả nhân viên bán hàng!”
“Cho những người muốn học kỹ năng bán hàng hiệu quả…”
Nhấn mạnh tính cạnh tranh
“Đối thủ cạnh tranh có thể lấy khách hàng của bạn”
“Hãy chấm dứt việc để đối thủ cạnh tranh lấy đi khách hàng của bạn”
Chứng thực bằng con số
“Tôi có 10 khách hàng mới sau khi học kỹ năng bán hàng hiệu quả!
“Doanh số của tôi đã tăng gấp đôi!”
Cung cấp dịch vụ khuyến mãi đến khách hàng
“Học thử kỹ năng bán hàng hiệu quả miễn phí”
“Giảm 50% khi mua trọn bộ DVD Kỹ năng bán hàng hiệu quả”
Cung cấp một giải pháp “Làm thế nào ?”
“Làm thế nào để bán hàng thành công ngay lần gặp đầu tiên?”
“Làm thế nào để chinh phục tâm lý khách hàng?”
Đặt một câu hỏi
“Ban có muốn doanh thu của mình bắt đầu tăng từ hôm nay?”
“Bạn đã sẵn sàng nhận mức lương gấp đôi trong tháng tới chưa?”
Cung cấp các lý do
“10 lý do khách hàng rời bỏ bạn”
“20 lý do khiến doanh số của bạn không tăng”
Cung cấp chuyên gia tư vấn
“Bậc thầy về nghệ thuật bán hàng Zig Ziglar khuyến cáo…”
“Mọi thứ bạn cần biết về kỹ năng bán hàng hiệu quả”
Khơi dậy kết quả nếu khách hàng không sử dụng dịch vụ của bạn
“Bạn sẽ làm gì nếu doanh số sụt giảm do…?”
“Bạn có thể mất khách hàng trung thành nếu…”
Cung cấp các bước mang lại lợi ích cho khách hàng
“3 bước dễ dàng để nâng cao kỹ năng bán hàng”
“Các bước để tạo ra lòng trung thành khách hàng”
Giáo dục người đọc
“Làm thế nào để thúc đẩy doanh nghiệp của bạn ”
“Tìm hiểu về kỹ năng bán hàng 2.0”
Kích thích sự hiếu kỳ
“Bạn có biết chính nhân viên sale đang khiến khách hàng bỏ đi!”
“10 điểm G kích thích hành động mua hàng”
Tăng cảm giác bí mật
“Khám phá các bí mật …”
“Tìm hiểu xem có ai khác biết về nó…”
Phóng đại (nhưng chỉ khi bạn có thể xác định được nó)
“Những điều tốt nhất bạn có thể làm cho nhân viên sale của bạn…”
“Giải pháp toàn diện, lâu dài cho đội ngũ sale”.
Ra lệnh
“Ngừng ngay việc giảm giá để kích thích mua hàng!”
“Làm cho năm nay là cộc mộc thành công rực rỡ của bạn”
(Nguồn: sưu tầm)

5 NGUYÊN TẮC MARKETING TRÊN INTERNET

http://internetmarketinglanphan.blogspot.com
Quan hệ hợp tác trong Internet marketing

Internet marketing-Những nguyên tắc quan trọng

Vì sao hầu hết những người thợ thủ công khéo léo nhất, tự mình không thể trở thành triệu phú? Câu trả lời đơn giản là họ tạo ra những sản phẩm tuyệt vời nhất nhưng lại không thể marketing sản phẩm của mình. Website cũng vậy, bạn không chỉ đầu tư xây dựng mà còn phải làm tốt công tác Internet marketing.

1. Nguyên tắc Ngõ cụt

Rất nhiều website rất đẹp nhưng chẳng có gì làm khách đến thăm. Thiết lập một website cũng giống như xây dựng một cửa hàng trên một ngõ cụt. Nếu bạn muốn có người đến mua hàng, bạn phải cho họ thấy có một lý do để ghé thăm. Rất nhiều website ở Việt Nam và thế giới được xây dựng theo kiểu “cứ làm đi, rồi sẽ có người đến thăm”. Điều này là sai lầm, đặc biệt là kinh doanh trên mạng. Vậy thì trước khi xây dựng website cho doanh nghiệp, bạn hãy đặt câu hỏi “Làm thế nào để khách hàng truy cập vào website thường xuyên?”.Và câu trả lời bắt đầu từ kê hoạch Internet marketing

Một cách thông thường, kế hoạch Internet marketing như sau:

- Quảng bá hai tháng qua banner để tăng nhận thức người dùng về tên tuổi.
- Đăng ký lên các search engine.
- Đăng ký liên kết vào các danh bạ.
- Thiết lập các bản tin định kỳ nhằm xây dựng mối quan hệ thường xuyên với khách hàng.

2. Nguyên tắc cho và bán

Một trong những thứ được coi là văn hóa của Internet là «miễn phí ». Nguyên tắc cho và bán nói rằng, hãy thu hút khách hàng bằng cách cho họ một số thứ miễn phí và bán một số dịch vụ gia tăng. Những cửa hàng truyền thống thường có những biểu ngữ như « miễn phí cho 50 khách hàng đầu tiên » và rồi họ bán một số sản phẩm khác. Chiến dịch Internet marketing hoàn hảo không thể bỏ qua nguyên tắc này.

3. Nguyên tắc của sự tin tưởng khởi đầu cho mối quan hệ lâu dài với khách hàng

http://internetmarketinglanphan.blogspot.com/2012/11/tiem-nang-phat-trien-internet-marketing.html
Internet marketing qua mạng xã hội
Thông thường một sản phẩm được coi là tính cạnh tranh cao khi giá cả hợp lý và chất lượng được đảm bảo. Trên Internet, rào cản lớn nhất là sự tin tưởng và Internet marketing phải chú trọng điều đó. Sự tin tưởng của một thương hiệu trên các cửa hàng truyền thống được thiết lập bằng các chương trình quảng cáo trên nhiều phương tiện khác nhau. Tuy vậy, nếu bạn là doanh nghiệp vừa và nhỏ thì doanh nghiệp không thể trang trải được những chương trình như vậy. Nếu bạn là một cửa hàng truyền thống, thông qua tương tác giữa nhân viên và khách hàng, sự tin tưởng cũng có thể được thiết lập. Với một website thương mại, bạn hãy thiết lập sự tin tưởng bằng cách công bố chính sách rõ ràng về việc giao hàng, trả hàng và bảo hành đầy đủ. Xây dựng một website có navigation hợp lý, bảo mật được công nhận.

4. Nguyên tắc của kéo và đẩy


http://internetmarketinglanphan.blogspot.com/2012/11/internet-marketing-la-gi.html
Quảng cáo trên Google Adwords

Nguyên tắc này cho biết bạn hãy kéo mọi người đến website của bạn bằng một nội dung hấp dẫn và hãy đẩy những thông tin có chất lượng cao đến họ một cách thường xuyên qua e-mail. Mọi hình thức kinh doanh đều không thể tồn tại nếu chỉ bán có một lần. Chi phí để có được một khách hàng là rất cao nếu chỉ bán hàng cho họ có một lần. Đây là lý do mà nguyên tắc kéo và đẩy là hết sức quan trọng. Khi thu thập và gửi e-mail cho khách hàng, hãy nhớ kỹ hai điều : một là bạn sẽ gửi cho họ một điều gì đáng giá, hai là bạn hãy giữ bí mật về e-mail của khách hàng.

5. Nguyên tắc của thị trường mục tiêu

Những hãng lớn như Amazon, Wal-Mart có khả năng phát triển những mảng thị trường lớn bởi họ có tiềm lực mạnh về tài chính. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thương mại điện tử thành công bởi tìm kiếm được những “mảnh” thị trường nhỏ chưa được thỏa mãn và đáp ứng xuất sắc được những nhu cầu đó.

Tất cả những nguyên tắc trên đều hết sức quan trọng. Nếu bạn biết cách kết hợp những nguyên tắc trên thì bạn sẽ thành công trong kinh doanh mạng nói chung và chiến dịch Internet marketing nói riêng.
Nguồn:Chuyên san Trí Tri

Công thức chiến thắng cho Thương hiệu Việt


Sau một quá trình khá dài theo dõi sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp Việt, có một sự thật khiến chúng ta không khỏi đau xót: Thương hiệu Việt đang bị lấn át ngay trên sân nhà.
Tuy nhiên, vẫn còn đó những thương hiệu biết tìm ra cho mình những chiến lược xuất sắc để có thể chiến thắng những đối thủ đa quốc gia hùng mạnh. Tập hợp được những chiến lược đó lại, ta có thể có được một công thức chiến thắng dành cho thương hiệu Việt.
Tác giả: Hoàng Tùng
Founder/Manager Pizza Home Hanoi
Khát vọng
Không một công ty nhỏ bé nào có thể chiến thắng được đối thủ lớn nếu thiếu đi khát vọng. Khát vọng vươn lên ở đẳng cấp nào sẽ là tiền đề để doanh nghiệp phát triển đến đẳng cấp đó. Khát vọng sẽ là động lực để người chủ doanh nghiệp chia sẻ kiến viễn đối với cổ đông. Một công ty dám khát vọng, dám thách thức những ông lớn, đó sẽ là động lực chuyển tải dũng khí đến toàn bộ nhân viên.
Bạch Thái Bưởi với phong trào Người Việt dùng hàng Việt

Hãy xem khát vọng của Jack Ma, CEO của Alibaba khi thách thức Google: “Google có thể là con cá mập trên biển nhưng Alibaba là con cá sấu trên sông Trường Giang”. Sau những cuộc chiến không khoan nhượng, “con cá mập” Google đã phải cúi đầu trước “cá sấu” Alibaba.
Khát vọng lớn đã và tạo nên những thương hiệu huyền thoại trên thế giới. Đó là khát vọng của Steve Jobs: “Muốn tạo nên những sản phẩm là giao điểm giữa công nghệ và nghệ thuật”. Đó là khát vọng của Henry Ford: “Đại chúng hóa ngành xe hơi”. Đó là khát vọng của Bạch Thái Bưởi: “Tạo nên những sản phẩm cạnh tranh song phẳng với người Pháp”. Chính những khát khao cháy bỏng của những doanh nhân huyền thoại đã tạo nên những thương hiệu hàng đầu thế giới như Honda, Sony, Toyota, Amazon, Google, FaceBook v.v...
Không thể không kể đến khát vọng của doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ trong thời điểm ngày đầu khởi sự café hòa tan G7. Với khát vọng: “Họ làm được thì ta làm được. Nước họ làm được thì Việt Nam làm được”. Cái tên G7 phản ánh chính khát vọng đó: muốn tạo nên một thương hiệu Việt Nam có khả năng chinh phục nhóm G7, nhóm 7 nước mạnh nhất thế giới. Con đường còn trải dài phía trước, nhưng khát vọng đã giúp G7 chiếm lĩnh thị trường café hòa tan trong nước.

Động lực khiến một quốc gia phát triển, xã hội phát triển, một doanh nghiệp phát triển bắt nguồn đầu tiên phải từ khát vọng vươn lên. Và đó cũng chính là điểm đầu tiên cần phải có của một doanh nghiệp Việt khi sẵn sàng đứng lên thách thức những thương hiệu hùng mạnh nước ngoài.
Sản phẩm
Tuy nhiên, chỉ khát vọng không thôi thì chưa đủ. Trên thương trường, ta chứng kiến không ít doanh nghiệp với những tuyên bố lớn lao, với những giấc mơ lớn lao nhưng rồi không đi đến đâu.
Trên thương trường, những thủ thuật, những đòn võ kinh doanh, chiến lược, chiến thuật đều cần phải dựa trên một nền tảng quan trọng bậc nhất: sản phẩm chất lượng.
Chúng ta đã biết đến sự cầu toàn tỷ mỷ của Steve Jobs, ông muốn tạo ra những sản phẩm chất lượng nhất thế giới, không chỉ tạo cho người tiêu dùng những trải nghiệm choáng váng về mặt công nghệ mà còn phải có hình thức của một tác phẩm nghệ thuật. Sản phẩm với chất lượng vượt trội của iPod, iPhone, iPad so với những máy nghe nhạc, điện thoại và máy tính bảng khác có mặt cùng thời điểm là yếu tố quyết định đến sự thành công của thương hiệu Apple ngày nay.
Chúng ta cũng chứng kiến không ít những nhà hàng có cơ sở vật chất rất bình thường nhưng thực khác đến nườm nượp, xếp hàng chờ đến lượt. Có thể có nhiều lý do nhưng lý do quan trọng nhất luôn là sản phẩm ở đó chất lượng hơn mặt bằng chung trên thị trường.
Quay trở lại câu chuyện của thương hiệu Việt. Một trong những thương hiệu Việt được coi như là bảo chứng của chất lượng cao, đó chính là gốm Minh Long. Theo ông Lý Ngọc Minh: “Có những tác phẩm ông và cộng sự phải làm đi làm lại trong 5 năm, hội đủ mọi yêu cầu khắt khe mới được xuất xưởng”, để từ đó tạo nên những sản phẩm gốm chất lượng toàn bích bao gồm 4 có – 4 không: "Không thời gian, biên giới, giới tính, tuổi tác", và "Có văn hóa, nghệ thuật, phong cách, hồn”.
Gốm Minh Long với tiêu chuẩn 4 có 4 không
Sản phẩm tốt hơn là một nền tảng mạnh mẽ để thương hiệu Việt đương đầu với sức ép của những thương hiệu khổng lồ ngoại quốc.
Marketing
Nhưng trong cuộc chiến thương hiệu, một sự thực khá phổ biến đó là: sản phẩm chất lượng không phải luôn luôn là người chiến thắng. Chiếc bánh hamburger của Mc Donald’s chưa bao giờ được coi là chiếc bánh hamburger ngon nhất thế giới, nhưng Mc Donald’s vẫn là thương hiệu ẩm thực lớn nhất thế giới. Những kỹ sư tin học thích dùng hệ điều hành Linux hơn Microsoft, nhưng Microsft vẫn là phần mềm phổ biến nhất thế giới.
Để có thể chiến thắng được trước những đối thủ mạnh, sản phẩm chất lượng hơn là điều kiện cần, nhưng điều kiện đủ phải là sự thừa nhận rộng rãi của công chúng khi so sánh chất lượng giữa hai sản phẩm. Đây là lúc một trong những phẩm chất tối quan trọng của một thương hiệu phải xuất hiện: Marketing một cách khôn ngoan.
Nhiều người cho rằng marketing là cuộc đua của nguồn lực tài chính. Đây không phải là điều hoàn toàn đúng, vì nếu xét về nguồn lực tài chính, những tập đoàn đa quốc gia luôn có được hậu thuẫn tài chính hùng mạnh để có thể đè bẹp bất cứ công ty bản địa tại bất cứ quốc gia nào. Rất may, người chiến thắng trong cuộc đua marketing không phải là kẻ có nguồn lực tài chính lớn hơn, mà là bên thông minh hơn.
Câu hỏi: Mục đích của kẻ thông minh hơn, nguồn lực yếu hơn với sản phẩm chất lượng hơn trong chiến lược marketing là gì?
Đáp án: Tận dụng trí thông minh để cho cộng đồng biết được sự vượt trội trong sản phẩm của mình so với đối thủ.
Khi ra đời, Pepsi chỉ là chú nhỏ trước người khổng lồ Coca Cola. Để trở thành kẻ đối trọng Coca, Pepsi đã làm gì? Giám đốc marketing của Pepsi lúc đó là John Sculley (người sau này trở thành CEO của Apple và sa thải Steve Jobs) đã tung ra chiến dịch: “Thách thức Pepsi – Pepsi Challenge”, thực tế là hàng loạt những cuộc thử mù trên diện rộng, cho người tiêu dùng so sánh giữa mùi vị như một bức chiến thư gửi đến kẻ thống trị Coca Cola. Kết quả là Pepsi thắng toàn diện, còn Coca Cola suýt nữa vấp phải sai lầm nghiêm trọng khi định vứt bỏ đi cơ ngơi gần 100 năm lịch sử của mình để bắt đầu với thảm họa New Coke.
Nhiều thương hiệu Việt đã sử dụng chiêu thức này của Pepsi, đó là một chiêu thức tốt để người tiêu dùng nhận thức rõ về chất lượng sản phẩm. Vinamilk đã trưng ra các thành phần rõ ràng cho thấy thương hiệu sữa Việt Nam không hề kém cạnh so về mặt thành phần và chất lượng đối với các nhãn hàng sữa đến từ nước ngoài. Café G7 của Trung Nguyên đã có một cuộc thử mù với sự kiện đình đám tại Dinh Độc Lập và giành thắng lợi tuyệt đối về khẩu vị người tiêu dùng Việt Nam trước người khổng lồ Nestlé.
Liên kết tình cảm
Tuy nhiên, cho dù có giành được những thắng lợi ban đầu, khi đối mặt với một đối thủ với thương hiệu toàn cầu, ngân sách marketing hùng mạnh và hệ thống quản trị bài bản, một thương hiệu non trẻ luôn dễ bị hụt hơi trong một cuộc đua đường dài. Bất cứ một tập đoàn đa quốc gia nào đều có đầy đủ các công cụ trong tay để có thể vùi dập những kẻ thách thức bản địa nhỏ bé.
Khi đó, thương hiệu Việt cần phải làm gì?
Một thương hiệu có khát vọng lớn lao, có sản phẩm tốt hơn, được thừa nhận rộng rãi nhưng nếu không tạo lập được sự liên kết tình cảm với khách hàng thì thương hiệu đó sẽ vẫn có thể thua cuộc khi phải hứng chịu những đòn tấn công búa tạ của những đối thủ lớn.
Doanh nghiệp Việt Nam nếu muốn thành công và thành công bền vững, phải tạo được sự gắn kết tình cảm với khách hàng. Khi đó, khách hàng sẽ trở thành khách hàng trung thành, khách hàng trung thành sẽ trở thành tín đồ của thương hiệu.
Hãy xem thử những thương hiệu hàng đầu như Apple, Wal Mart, Microsoft, IBM, Harley Davision v.v…, họ đều tạo nên được sợi dây liên kết tình cảm mạnh mẽ với người tiêu dùng.
Liên kết tình cảm với khách hàng là điều thương hiệu Việt hoàn toàn có thể thực hiện và thực hiện một cách xuất sắc trước những đối thủ nước ngoài, bởi nó đòi hỏi sự sáng tạo và thấu hiểu tâm lý khách hàng bản địa một cách sâu sắc. Doanh nhân Bạch Thái Bưởi từ đầu thế kỷ đã khơi dậy tinh thần “Người Việt dùng hàng Việt” với niềm tin sắt đá vào tinh thần dân tộc khi trả lời Thống sứ Bắc Kỳ Rhené Robin: “Tôi kinh doanh trên đất nước tôi. Xung quanh tôi là đồng bào tôi. Đồng bào tôi sẽ ủng hộ tôi”.
Một chiêu thức khác được doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ sử dụng rất hiệu quả, đó là những bức “Tâm thư” kèm trong những hộp café G7 khi mở đầu cuộc chiến với Nestlé. Bức thư không nói rằng: “Bạn hãy mua café G7 đi” mà mở đầu bằng “Kính thưa quý đồng bào!” với những lời lẽ thiết tha kêu gọi tinh thần dân tộc, bày tỏ khát vọng tự cường Đại Việt, và kêu gọi người tiêu dùng Việt Nam sử dụng hàng Việt Nam.
“Tâm thư”, sợi dây liên kết tình cảm độc đáo của Trung Nguyên. Trong ảnh: Doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ - Chủ tịch Công ty cổ phần Tập đoàn Trung Nguyên. Ảnh: Nguyễn Á
Đây có thể nói là một trong những đòn đánh marketing hiệu quả bậc nhất, nó hướng người tiêu dùng đến một mục đích cao cả hơn, chinh phục nhân tâm và tạo thành một sự liên kết mạnh mẽ về mặt tình cảm giữa thương hiệu Việt và người tiêu dùng Việt.

Câu chuyện thương hiệu
Một thương hiệu lớn sau khi giành được tình cảm của khách hàng sẽ biết cách gắn thương hiệu của mình với những câu chuyện nhân văn. Cuốn sách trí tuệ kinh doanh của người Do Thái có một câu nói mà những người làm thương hiệu toàn cầu cần phải thấm nhuần: “Những con số rồi sẽ qua đi nhưng câu chuyện hay sẽ được người ta nhớ mãi”.
CEO lỗi lạc Steve Jobs cũng hiểu rõ điều này khi thuyết trình trong lễ tốt nghiệp tại Đại học Stanford: “Tôi chỉ muốn kể với các bạn ba câu chuyện trong cuộc đời tôi. Không có gì lớn lao. Chỉ ba câu chuyện mà thôi”. Ba câu chuyện với ba chủ đề Khát vọng – Kết nối – Đối mặt với cái chết đã khiến bài diễn văn của Steve Jobs trở thành một trong những bài diễn văn hay nhất trong lịch sử nhân loại.
Những câu chuyện tuyệt vời về sự khát khao vươn lên của những thương hiệu nhỏ bé sẽ là những tài sản lớn lao, khơi dậy tinh thần tự cường và khả năng sáng tạo tiềm ẩn trong mỗi con người chúng ta. Câu chuyện về tuổi thơ khốn khổ đầy gian truân và biến động của Thomas Edison với câu nói: “Thành công là 1% của thiên tài và 99% của sự cần cù” là động lực để biết bao thế hệ thanh niên tiếp nối noi theo.
Câu chuyện về Steve Jobs khi ông tạo lập nên thương hiệu Apple rồi bị đuổi khỏi Apple và sau đó quay trở lại đưa Apple trở thành thương hiệu lớn nhất toàn cầu có tác động mạnh mẽ đến khách hàng, là động lực để khách hàng quyết định sở hữu cho mình những chiếc iPhone, iPad.
Câu chuyện Đặng Lê Nguyên Vũ khi anh khởi nghiệp chỉ với một khát khao cháy bỏng muốn đưa mảnh đất quê hương thoát nghèo thoát nhục sẽ là nguồn cảm hứng vô tận, khơi dậy những tiềm năng mạnh mẽ của một Đại Việt cường thịnh.
Steve Jobs: “Hãy khát khao, hãy dại khờ”
Chính những câu chuyện tuyệt vời sau này sẽ trở thành những tài sản vô giá cho bất kỳ thương hiệu. Ngược lại, một thương hiệu trường tồn sau những thăng trầm phát triển phải có được/tạo được một câu chuyện cho riêng mình bao hàm trong đó những ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Thương hiệu Việt với khát khao Đại Việt thành công trong cuộc chơi toàn cầu luôn là nguồn cổ vũ động viên tinh thần lớn lao và là điểm mạnh mà không đối thủ nước ngoài nào có được. Những thương hiệu Việt cần phải có được những câu chuyện về khát khao Việt, về sức mạnh Việt, về tầm nhìn Việt. Đó chính là những động lực mạnh mẽ cho thương hiệu Việt Nam trong quá trình vươn ra biển lớn, ưỡn ngực đón nhận những thách thức tầm vóc toàn cầu.
Ngày nay, khi biên giới hành chính đang ngày một lu mờ, khi biên giới kinh tế ngày càng rộng mở, khi chúng ta sống trong một thế giới phẳng, một ngôi làng toàn cầu thì những thương hiệu Việt chính là những đại sứ truyền bá văn hóa Việt Nam đến các quốc gia khác. Cơ hội chưa bao giờ lớn đến thế và thách thức cũng chưa bao giờ lớn đến thế.
Là một người tiêu dùng Việt yêu thích thương hiệu Việt, người viết mong muốn sẽ có nhiều nhiều hơn nữa những thương hiệu Việt có đầy đủ khả năng chiến thắng những đối thủ hùng mạnh nước ngoài, nêu bật được tinh thần tự cường Đại Việt và trở thành những đại sứ mang quyền lực mềm của Việt Nam đi khắp thế giới.

HOÀNG TÙNG - Founder/Manager Pizza Home Hanoi

QUẢNG BÁ CHIẾN DỊCH INTERNET MARKETING

Nếu bạn đã lên một kế hoạch Internet marketing thì bước tiếp theobạn cần quảng bá để khách hàng mục tiêu biết đến chiến dịch Internet marketing của mình. Đặt banner trên các báo điện tử, đưa video clip lên YouTube để chia sẻ với cộng đồng, nhờ các “hot” blogger viết bài giới thiệu… Có rất nhiều công cụ quảng bá khác nhau mà  các nhân viên Internet marketing có thể lựa chọn. Nhưng làm thế nào để các công cụ phát huy hiệu quả thể hiện ở việc lôi kéo được nhiều khách hàng mục tiêu đến với chiến dịch là câu hỏi mà không phải marketer nào cũng có thể trả lời.

Blogging - Tận dụng sức mạnh của quyền lực thứ năm

Ra đời sau báo hình, báo in, báo tiếng, báo điện tử nhưng blog đang nhanh chóng vươn lên trở thành quyền lực thứ năm trong giới truyền thông.
http://internetmarketinglanphan.blogspot.com
Blog-Công cụ hữu ích trong Internet marketing

Một câu chuyện có thực tại Malaysia

Ngày 20.6.2008, Kenny Sia, blogger nổi tiếng nhất tại Malaysia than phiền về chất lượng thức ăn phục vụ trên chuyến bay của Hãng Hàng không Air Asia trên blog của mình kèm theo hình minh họa. Ngay trong ngày, độc giả trên blog của Kenny đã viết hơn 20 trang A4 phê bình chất lượng thức ăn của Air Asia. Một tuần sau đó, Kenny nhận được lời mời của Air Asia tham dự buổi ra mắt thực đơn mới cho chuyến bay. Một chút do dự, nhưng rồi Kenny quyết định tham gia sự kiện này. 

Hình thức trình bày, mùi vị của món ăn mới gây ấn tượng tốt cho Kenny. Ngay sau chương trình, đích thân Tony Fernandes - Chủ tịch Tập đoàn Air Asia đã gọi điện thoại cảm ơn sự có mặt của Kenny. Khi trở về nhà, anh đã viết lại trên blog những ấn tượng của mình về cuộc trải nghiệm sản phẩm và đăng tải toàn bộ hình ảnh cùng minh chứng về cuộc điện thoại của Tony. Lần này, độc giả của Kenny đã đưa ra hơn 223 lời bình tích cực.

Sử dụng “hot” blogger để quảng bá sản phẩm hay đánh bóng tên tuổi của một thương hiệu đã xuất hiện ở Việt Nam khoảng ba năm nay, cùng với sự phát triển của Yahoo!360. Người tiêu dùng thường tin những người họ quen biết hay những tên tuổi lớn trong thế giới blog (hot blogger) hơn là những quảng cáo trên báo hay tivi. Blogging là một hình thức quảng bá có mức độ tin cậy cao, một dạng Internet marketing truyền miệng. Doanh nghiệp có thể tiếp cận chính xác đối tượng khách hàng mục tiêu nhờ tính cộng đồng của blog, tạo độ phủ cũng như sức lan tỏa mạnh mẽ vì blogger là những người năng động và rất tích cực tham gia vào các hoạt động cộng đồng như , mạng xã hội… Và có thể nhận được ý kiến phản hồi của người tiêu dùng một cách nhanh chóng.

“Công thức” truyền miệng hiệu quả trên blog

Câu chuyện trên đây cũng cho thấy rõ sử dụng hot blogger cũng có những thách thức nhất định. Sử dụng đúng cách thì tạo ra hiệu quả, ngược lại có thể phản tác dụng gây ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh của doanh nghiệp.

1.Chọn đúng “những người có ảnh hưởng” (Influencer): Đây là phần quan trọng nhất của toàn chiến dịch Internet marketing liên quan đến việc tiếp cận khách hàng mục tiêu. Tùy theo quy mô, đặc tính sản phẩm, thông điệp mà có thể chọn nhiều dạng blogger khác nhau, có thể nổi tiếng hoặc không nổi tiếng, hoặc có thể là ca sĩ, diễn viên, nghệ sĩ trong một lĩnh vực nào đó. Tuy nhiên, tất cả những người này đều phải có liên quan đến thương hiệu, thông điệp sản phẩm và có tầm ảnh hưởng nhất định đối với cộng đồng blogger mà nhãn hàng đang hướng tới. Tầm ảnh hưởng của blogger được xác định dựa trên chất lượng bài viết, số lượng lời bình và danh sách bạn bè của họ.

2.Truyền đạt tinh thần của sản phẩm, thông điệp: Chỉ khi cảm nhận được cái “hồn” và thông điệp của sản phẩm, thì các blogger mới có thể giới thiệu một cách rõ ràng, cuốn hút và tự nhiên. Vì thế, hãy phân tích cho họ hiểu rõ đặc điểm của sản phẩm, nhất là các điểm mạnh, khuyến khích họ đối thoại, chất vấn và trải nghiệm để yêu thích sản phẩm thật sự và trở thành “đại sứ” của thương hiệu, chứ không đơn thuần là một người đưa tin.

3.Kiểm soát chất lượng của bài viết: Doanh nghiệp hay các công ty quảng cáo không thể viết thay cho blogger vì sẽ làm mất tính tự nhiên và làm giảm sức hấp dẫn của blog. Thay vào đó, hãy đảm bảo quyền lợi của nhãn hàng bằng cách đánh giá và chỉnh sửa những đại ý mà blogger đưa ra trước khi viết. Sau khi thống nhất, để cho họ tự do thể hiện bằng ngôn ngữ và phong cách của mình trên cơ sở khuyến khích người khác nghĩ tốt về sản phẩm.

4.Kết hợp với các công cụ online khác của Internet marketing: Quảng bá bằng blog nên kết hợp với các công cụ online mang tính cộng đồng và tương tác cao như chat, diễn đàn, mạng xã hội… để tạo độ phủ và gia tăng sức ảnh hưởng của chiến dịch.

5.Thu nhận và đánh giá phản hồi: Các công ty nên có những đánh giá định kỳ về phản hồi của người tiêu dùng qua những suy nghĩ, ý kiến trên diễn đàn, chat, lời bình trên blog, mạng xã hội… do các hot blogger báo cáo về để có những điều chỉnh thích hợp.

6.Duy trì mối quan hệ với blogger: Các hot blogger, những người đã có cơ hội trải nghiệm với sản phẩm và gắn bó với bạn trong một thời gian có thể sẽ tiếp tục ủng hộ bạn trong các lần tung sản phẩm hoặc chiến dịch khác. Trong mỗi sự kiện liên quan đến thương hiệu, bên cạnh danh sách khách mời báo chí, đừng quên gửi thiệp mời cho những hot blogger có sức ảnh hưởng tới thương hiệu. Hãy xây dựng mối quan hệ và giữ liên lạc với họ để triển khai các chiến dịch tiếp theo của Internet marketing.  

Brand widget - sức mạnh công nghệ và sự sáng tạo

Trong chiến dịch Internet marketing cho gói sản phẩm quần jeans và giày dép mới đây, Levi’s đã tung ra một widget gồm các slide mô tả sản phẩm, kèm theo những đoạn nhạc để tăng sự thu hút với những phụ nữ thành thị và một mẩu giấy điện tử có thể chỉnh sửa để người dùng để lại tin nhắn hay thông báo nơi họ sẽ đến mua hàng. Kết quả, sản phẩm đã được bán hết chỉ trong vòng chưa đầy một ngày.

Quảng bá thương hiệu bằng widget

Widget là một mẩu (box) nội dung di động có mã số có thể được cài đặt và hoạt động trong bất kỳ đoạn mã HTML riêng lẻ trên trang web, trang chủ cá nhân, màn hình vi tính, blog hoặc mạng xã hội của người sử dụng cuối mà không cần biên dịch. Widget thường tồn tại dưới dạng DHTML, JavaScript, hoặc Adobe Flash và làm việc như một chương trình hoặc ứng dụng mini. Widget thường bao gồm tin tức, thời tiết, đồng hồ, game...

Quảng bá thương hiệu bằng widget là cách tạo ra một chương trình có những ứng dụng hữu ích liên quan đến sản phẩm, thương hiệu để thu hút người sử dụng tải về máy tính, trang web, blog, mạng xã hội… Widget nhận được sự tin tưởng rất cao của người dùng Internet vì nó được chính họ lựa chọn và chủ động tải về, công cụ này cũng tạo sự tương tác thường xuyên với khách hàng khi hiện trên màn hình máy tính của họ mỗi ngày và có sức lan tỏa lớn vì có thể được chia sẻ với nhiều người. 

Bí quyết tạo một widget hiệu quả

Để đạt được hiệu quả, những widget quảng bá thương hiệu phải lôi kéo được nhiều người dùng sử dụng thường xuyên, có những ứng dụng phổ biến và nhất là đúng đối tượng khách hàng mục tiêu. Muốn vậy, các nhân viên Internet marketing cần lưu ý:

1.Đem lại giá trị cho người dùng: Widget phải có những yếu tố giải trí (game, đố vui, những đoạn quảng cáo phim...), gia tăng sức ảnh hưởng của người sử dụng với cộng đồng qua việc để họ thể hiện bản thân theo những cách mới lạ như cá nhân hóa các slide, nâng cấp chủ đề tin nhắn, tạo playlist trong MP3… đồng thời phải thường xuyên tăng thêm những đặc điểm mới để lôi cuốn người dùng quay trở lại.

2.Đơn giản, tập trung và có liên quan: Bạn cần tạo ra một vài ứng dụng chính làm nổi bật thông điệp mà vẫn có đủ sức thu hút chỉ với vài cú click chuột.

3.Gia nhập vào những trang web quyền lực: Các mạng xã hội như MySpace hay Facebook đều có chính sách mở các platform cho những nhà phát triển widget. Bạn có thể tận dụng cơ hội này để quảng bá thương hiệu với các thành viên trong mạng xã hội và bạn bè của họ qua việc cho phép người dùng dễ dàng tương tác và chia sẻ nội dung.

4.Tối ưu hóa mức độ sử dụng: Những widget được cài đặt đều gửi về một file có mã số riêng, vì thế có thể nhanh chóng nhận được phản hồi và phát triển nội dung theo nhu cầu của người dùng. Bạn cũng có thể linh động trong việc điều chỉnh ngân sách và chiến lược để trở thành kênh quảng bá tốt nhất.

5.Lên kế hoạch cho những chiến dịch tiếp theo: Khi chiến dịch kết thúc, thay vì bỏ mặc nội dung gốc của một widget, bạn có thể duy trì cho một chiến dịch tiếp theo bằng cách tạo ra nội dung mới dựa trên phản hồi của người dùng.

6.Bắt kịp hành vi của người sử dụng: Xu hướng trong giao tiếp và tự thể hiện của cộng đồng mạng đang có nhiều thay đổi như gửi tin nhắn nhiều hơn email và các tin nhắn xuất phát từ profile trong mạng xã hội... Do đó, bạn phải tạo ra các widget phù hợp với những hành vi mới của người dùng để tăng tính cạnh tranh. Các thương hiệu thất bại trong việc tương tác với người dùng có thể là do không tạo mối quan hệ với những người có sức ảnh hưởng lớn, hoặc để cho các đối thủ cạnh tranh có được mối quan hệ với họ.  

Email marketing - khó nhưng không phải là không thể

38% sử dụng Internet tại Việt Nam trong độ tuổi 18-30 có sử dụng email, con số này ở độ tuổi 41-50 là 34%. Theo nghiên cứu của AC Nielsen 2008, email đứng thứ tư trong các hoạt động được sử dụng nhiều nhất trên Internet. Đặc biệt ở TP.HCM, mức độ sử dụng email hàng ngày và thường xuyên chiếm đến 73% (theo nghiên cứu của FTA 2008). Những con số trên khiến các nhân viên Internet marketing không thể bỏ qua công cụ quảng bá đầy tiềm năng: Email marketing. 
http://internetmarketinglanphan.blogspot.com
Email marketing

Lợi thế của email marketing

Chỉ trong tích tắc có thể chuyển cùng một thông điệp tới hàng trăm ngàn người với chi phí chỉ bằng 1/5, thậm chí chỉ 1/10 so với gửi thư thông thường; nội dung sống động với hình ảnh, âm thanh, video… mà không tốn chi phí in ấn, xuất bản, lại dễ dàng cập nhật, chỉnh sửa; có thể đo lường hiệu quả và nhanh chóng nhận được phản hồi từ khách hàng… Đó là những ưu điểm mà email marketing có thể tạo ra cho chiến dịch Internet marketing của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất với việc phát triển email marketing là nỗi lo ngại bị xem là hình thức “spam” hộp thư của khách hàng.

Thực hiện email marketing hiệu quả

Email marketing có tạo ra được hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào phương pháp và quá trình thực hiện của các doanh nghiệp, trong đó có năm vấn đề đáng chú ý sau:

1.Đúng người: quan trọng nhất trong việc sử dụng email marketing là có một danh sách khách hàng mục tiêu đồng ý nhận email. Danh sách này có thể được tạo ra bằng những mẫu đăng ký thành viên trên trang web, tổ chức sự kiện online/offline… Đây chính là những người có quan tâm đến sản phẩm, thương hiệu nên tỉ lệ nhận và mở email sẽ rất cao.

2.Đúng nội dung: Các nhà cung cấp dịch vụ email đều có hệ thống chấm điểm “spam” như cách thể hiện tiêu đề, sự liên quan giữa tiêu đề và nội dung, dung lượng hình trong một email… Nếu người dùng nắm rõ các quy tắc này sẽ thiết kế được một email “hợp pháp”. Cũng cần đăng ký với các nhà cung cấp dịch vụ để nhận thông báo khi email bị coi là phiền nhiễu, nhanh chóng đưa email của các khách hàng này ra khỏi danh sách. Để tạo nội dung hấp dẫn, email mẫu nên được thiết kế có độ rộng dưới 500 pixel, tựa đề dưới 35 ký tự và không nên sử dụng tiếng Việt có dấu, để thông điệp chính bên tay trái và nên có những văn bản thay thế cho hình ảnh vì một số công cụ như Microsofr Outlook có tính năng chặn hình ảnh. Điều quan trọng là nội dung nên được thiết kế động và cá nhân hóa.

3.Đúng thời điểm: Tìm hiểu thói quen của đối tượng để email có cơ hội được mở ra nhiều nhất. Email cho doanh nghiệp nên gửi vào ban ngày từ thứ Hai đến thứ Sáu, email cho người tiêu dùng thì nên gửi vào thứ Hai hoặc thứ Năm là lúc người ta sử dụng email nhiều nhất.

4.Đúng tần suất: Những email có cùng một nội dung chỉ nên gửi 2-4 lần/tháng cho cùng một đối tượng. Ít hơn số này thì chưa tạo ra độ nhận biết còn nhiều hơn thì sẽ gây phản cảm.

5.Đúng kênh truyền thông: Email khi kết hợp với các công cụ khác sẽ tạo được hiệu quả rất cao như kết hợp với direct mail (dùng email để thông báo trước rồi gửi thư trực tiếp đến những người có phản hồi với email thì cơ hội sẽ cao hơn do đã chọn được đối tượng có quan tâm đến chương trình).

Để đo lường hiệu quả và có những thay đổi thích hợp, doanh nghiệp thường xuyên thực hiện các báo cáo về: tổng số email được gửi đi, tỉ lệ email bị trả về, tỉ lệ email bị từ chối, tỉ lệ email được mở, mở như thế nào, ở đâu, tỉ lệ click đường dẫn… Những thông số cơ bản như tỉ lệ trả về, tỉ lệ từ chối và phản hồi doanh nghiệp có thể tự làm, nhưng để tính được tỉ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) thông thường sẽ phải nhờ đến agency. 

SEM: cuộc chiến giành vị trí dẫn đầu

Theo nghiên cứu của FTA, hầu hết những người sử dụng Internet ở cả hai nhóm 17-24 và 25-30 tuổi đều có sử dụng công cụ tìm kiếm trong ba tháng qua, trong số đó có hơn 50% sử dụng ít nhất một lần/ngày. Tìm kiếm thông tin đứng thứ hai trong số những lý do truy cập Internet (chỉ sau đọc tin tức).

Quảng cáo trên các công cụ tìm kiếm (Search Engine Marketing - SEM) là phương pháp tiếp cận khách hàng tiềm năng bằng cách đưa trang web của doanh nghiệp hiển thị ở những vị trí đầu tiên trên trang kết quả của các công cụ tìm kiếm như Google, Yahoo, MSN... Theo ông Chandler Nguyễn, chuyên gia SEM Công ty DGM, đây là hình thức quảng cáo hiệu quả trong bối cảnh suy thoái hiện nay, vì tiết kiệm chi phí và hiệu quả trong việc thu hút khách hàng đến mua hàng tại trang web hay cửa hàng, dễ dàng kiểm soát, đánh giá tỉ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư một cách chính xác, minh bạch.

Phương pháp quảng cáo này có hai hình thức: Pay Per Click(PPC) - Trả tiền theo click và Search Engine Optimization (SEO) - Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm. Tại thị trường Việt Nam hay một số nước trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á, nhiều người làm tiếp thị thường hiểu nhầm SEM chỉ bao gồm PPC còn SEO là một mảng riêng. Chính vì vậy khi lập kế hoạch hoặc phê duyệt chiến lược quảng cáo trên các công cụ tìm kiếm, họ thường bỏ qua SEO.

Pay Per Click - Cơ hội sau mỗi cú click chuột

Pay Per Click-PPC (hay còn gọi là Paid Search) là cách hiển thị thông điệp quảng cáo trên phần liên kết được tài trợ (Sponsored Links) trong trang kết quả tìm kiếm của Google, Yahoo… khi người tiêu dùng tìm kiếm những từ khóa có liên quan. Doanh nghiệp sẽ đặt giá cơ bản cho mỗi click và trả tiền cho mỗi lần công cụ tìm kiếm hướng khách hàng tới trang web. Càng có nhiều người truy cập trang web, doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội trong việc bán hàng và xây dựng thương hiệu. Đồng thời có thể giảm chi phí quảng cáo vì các công cụ tìm kiếm, đặc biệt là Google có chính sách thưởng cho khách hàng có những quảng cáo chất lượng, được nhiều người truy cập nhằm đem đến cho người dùng những kết quả tốt nhất. Tuy nhiên, bạn phải lưu ý vì nếu chọn một từ khóa quá phổ biến, có thể bạn sẽ nhận được nhiều tìm kiếm nhưng đó không thật sự là những khách hàng tiềm năng và bạn sẽ phải trả một mức phí rất lớn.

http://internetmarketinglanphan.blogspot.com
Pay per click

Làm thế nào để có được một chiến dịch PPC hiệu quả?

1.Xây dựng một chiến lược quảng cáo dài hơi. Các doanh nghiệp và cả agency truyền thống cần nhận ra rằng người dùng Internet liên tục tìm kiếm thông tin trên mạng 365 ngày/năm. Sẽ là rất lãng phí nếu doanh nghiệp xây dựng chiến dịch Pay Per Click giống như chạy quảng cáo banner, rầm rộ xuất hiện rồi lại nhanh chóng kết thúc trong một thời gian ngắn. Họ cũng sẽ mất dấu trên thị trường, mất điểm và khó có thể cạnh tranh được với các đối thủ.

2.Thực hiện chiến dịch với một số bước cơ bản sau. Phân tích từ khóa, kiểm tra, đánh giá trang web và tình trạng kinh doanh của doanh nghiệp, xây dựng thông điệp quảng cáo, đưa chiến dịch lên các công cụ tìm kiếm bằng cách đặt giá cho từ khóa.

3.Đo lường và đánh giá kết quả hàng tháng. Mỗi công ty đều có những đặc thù riêng và cần báo cáo những thông số riêng. Một số thông số cơ bản cần nắm được là: số lần hiển thị quảng cáo, số lần click chuột, tỉ lệ click, giá mỗi lần click, số lượng giao dịch kinh doanh thu được, tỉ lệ chuyển đổi... Khi thu thập báo cáo, cần so sánh kết quả từ các hoạt động quảng cáo khác nhau theo thời gian để từ đó biết được hoạt động nào có hiệu quả hơn đồng thời nắm bắt được những thay đổi theo thời vụ trong năm. 

4.Tối ưu hóa chiến dịch dựa vào các báo cáo.Báo cáo sẽ trở nên vô ích nếu không biết nhận xét và áp dụng những thông tin thu thập được để tối ưu hóa chiến dịch. Phần lớn các khách hàng gặp phải tình trạng là có trong tay một kết quả báo cáo rất đẹp mắt bằng Excel hay Powerpoint, tuy nhiên doanh nghiệp hay agency không biết phải làm gì với báo cáo này, không biết liên hệ những con số trên báo cáo với các mục đích kinh doanh của mình. 

SEO - thủ thuật tăng hạng trang web

SEO là quá trình tối ưu hóa trang web cho các công cụ tìm kiếm nhằm nâng cao vị trí của trang web trong phần kết quả tìm kiếm tự nhiên của Google, Yahoo… khi người tiêu dùng đánh vào một từ khóa có liên quan. Doanh nghiệp không cần trả phí nếu xuất hiện trong phần kết quả tìm kiếm tự nhiên nên một trang web được tối ưu hóa sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí khi chạy PPC do các công cụ tìm kiếm đưa vào khái niệm Quality Score (Google) hay Quality Index (Yahoo). SEO được chia làm hai phần: on-page optimization và off-page optimization. On-page optimization là cách xây dựng cấu trúc trang web, nội dung trang web, sự chặt chẽ, kết nối giữa các trang trong trang của bạn (links)… Off-page optimization là quá trình phổ biến trang web của bạn đến với nhiều người.
http://internetmarketinglanphan.blogspot.com
Search engine optimization

Làm thế nào để có được một chiến dịch SEO hiệu quả?

Để sử dụng SEO hiệu quả, có một số điều cơ bản mà doanh nghiệp cần nắm được:

1.Mỗi trang web cần được tối ưu hóa theo những cách khác nhau dựa vào tính cạnh tranh của ngành, mức độ phức tạp của trang web, hệ thống quản lý dữ liệu đang sử dụng…

2.Mỗi doanh nghiệp đều có mục đích kinh doanh, đối tượng khách hàng, thị trường mục tiêu khác nhau, vì thế các giai đoạn trong quá trình tối ưu hóa cũng khác nhau. Nhưng nhìn chung, SEO chỉ có kết quả khi thực hiện trong khoảng thời gian tối thiểu là sáu tháng đến một năm, với rất nhiều công việc khác nhau như: tìm hiểu kỹ đối tượng mục tiêu, xây dựng kế hoạch từ khóa (keyword analysis), liên hệ với web-masters để tìm hiểu về hạn chế của CMS, công ty quảng cáo...

3.Một điều tối quan trọng đối với SEO là kết quả xếp hạng (Search Engine Ranking) cho các từ khóa quan trọng. Vì vậy khi chọn lựa từ khóa, bạn phải tự đặt mình vào vị trí khách hàng, họ là ai và thường chọn những từ khóa nào để tìm kiếm sản phẩm, dịch vụ của bạn. Đồng thời, bạn phải khảo sát thị trường: từ khóa đó được tìm kiếm bao nhiêu lần trong tháng, có bao nhiêu đối thủ cạnh tranh đối với từ khóa đó. Nhiều người thường tối ưu hóa cho những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhưng chưa chắc đã là từ khóa tiềm năng. Từ khóa càng mang tính tập trung (targeted keyword) thì càng nhận được ít lượng truy cập, nhưng sẽ mang đến những khách hàng tiềm năng vì đây là những người quan tâm đến lĩnh vực của bạn và khả năng mua hàng của họ là rất cao. Bạn nên chọn 2-3 từ khóa tập trung cho mỗi trang web trên trang của bạn.

4.Mỗi công cụ tìm kiếm có cách đánh giá, xếp hạng hiển thị riêng, nhưng đều đặt mục tiêu cung cấp cho người dùng những kết quả tốt nhất (những trang web chất lượng) qua các tiêu chí như kỹ thuật, đồ họa, nội dung… và thường xuyên thay đổi bí mật thuật toán của mình để tránh bị lạm dụng. Do đó, không một công ty nào có thể đảm bảo trang web của khách hàng sẽ xếp hạng thứ bao nhiêu, cho từ khóa nào, sau khoảng thời gian bao lâu. Việc xây dựng chất lượng nội dung trang web liên quan đến từ khóa đó nhằm mang đến cho khách viếng thăm những thông tin bổ ích vẫn là quan trọng nhất. Nếu chỉ chú trọng vào cuộc đua vị trí, các agency hay doanh nghiệp có thể sa vào các phương pháp giả tạo (black hat techniques) bị cấm bởi Google hay Yahoo. Các công cụ tìm kiếm có thể phạt bằng cách loại toàn bộ trang web của doanh nghiệp ra khỏi danh sách kết quả tìm kiếm (Index).

Khai thác sự tương tác thông qua các giác quan nghe nhìn của người tiêu dùng, video marketing là sự kết hợp hài hòa của quảng cáo truyền hình truyền thống với tính lan truyền của Internet. Với video marketing, những người làm tiếp thị có thể đưa clip quảng cáo đến với cộng đồng mạng mà không tốn kém nhiều chi phí như phát trên tivi, thậm chí có thể làm những series clip để kể chuyện cho khách hàng.

Làm sao để phát huy hiệu quả?

Để sử dụng video Internet marketing cần chú ý đến những thủ thuật sau:

1.Nên sử dụng video ở trang đầu tiên vì đó giống như trao một tấm danh thiếp. Trang đầu tiên giới thiệu bạn và tất cả những ấn tượng đầu tiên sẽ tạo nên ở đây. Đừng để video trên một trang quá xa mà thậm chí khách hàng không biết đến nó. Bất kỳ cách nào, hãy để khách đến thăm trang web của công ty có cơ hội được xem video.

2.Lựa chọn trang web. Sự lựa chọn tốt nhất là những trang web như YouTube, Yahoo! Video, hay Google Videos, clip.vn. Thuận lợi chính là video của bạn sẽ được phát miễn phí.

3.Chia sẻ video. Nếu thật sự muốn, hãy cho phép người sử dụng có thể kết nối vào video của bạn. Virus video marketing là cách tốt nhất để làm cho công ty được biết đến rộng rãi. Chúng đem tên công ty đến những trang web với tốc độ nhanh chóng hơn bất kỳ công cụ marketing nào.

4.Đừng quên thêm những dòng chữ như “tell a friend” (giới thiệu cho một người bạn) hay “visit our website” (ghé thăm trang web) tại điểm cuối của video.

5.Thời lượng. Video marketing phải đủ ngắn để không làm người sử dụng chán. Đa phần những người sử dụng Internet không muốn lãng phí thời gian và họ chán ngấy với những quảng cáo không bao giờ kết thúc. 

BANNER : Đường dẫn đến doanh nghiệp

Banner là gì?

Banner là hình thức quảng cáo rất phổ biến trên các trang web hiện nay. Đó chính là những ô quảng cáo được đặt trên các trang web, có dạng tĩnh hoặc động, liên kết đến một trang web khác chứa các nội dung thông tin của quảng cáo.

Mặc dù các banner có thể được thiết kế với kích thước bất kỳ, việc sắp xếp các banner trên trang web sẽ thuận tiện hơn khi có tiêu chuẩn đối chung. Ủy ban Quảng cáo Tương tác (IAB) khuyến khích các thành viên nên sử dụng bốn dạng quảng cáo chuẩn là: 180x150px, 300x250px, 160x600px và 728x90px. 

http://internetmarketinglanphan.blogspot.com
Hình minh họa
Làm sao để tăng hiệu quả quảng bá?

1.Trước khi tiến hành sử dụng banner, bạn nên đến thăm một số trang web hướng đến những nhóm đối tượng khách hàng ưu tiên và tìm hiểu về giá của quảng cáo, lượng khách truy cập của trang web đó. Để banner quảng cáo nhận một tỉ lệ phần trăm phản hồi đáng kể, nó cần phải được thiết kế thật chuyên nghiệp, bắt mắt. Đừng nghĩ rằng banner chỉ là một hình nhỏ đặt trên trang web mà lơ là không chú trọng đến nó. Khách hàng sẽ phản hồi tùy thuộc vào sự hấp dẫn của quảng cáo. Vì thế hãy chắc chắn rằng:
Banner quảng cáo được thiết kế bởi người chuyên nghiệp hoặc sử dụng một công ty thiết kế banner đã quen thuộc với công ty bạn, quan trọng nhất là hiểu về chiến lược quảng cáo của bạn.

2.Banner quảng cáo phải có thông điệp quảng cáo rõ ràng về việc nó sẽ đem đến điều gì cho người tiêu dùng. Một banner với nội dung mơ hồ sẽ không thể thu hút được khách hàng.

3.Banner quảng cáo thành công cần thiết phải sử dụng từ ngữ nhấn mạnh đến lợi ích của sản phẩm mà nó đang giới thiệu. 

4.Những banner quảng cáo kết hợp được cả ba điều này có thể sẽ nhận được tỉ lệ click rất cao. Vì chúng là sự kết hợp của hình ảnh để thu hút cặp mắt và nội dung sẽ tạo động lực để khách hàng click vào đó. 

Internet marketing không chỉ là cuộc chiến của chiến dịch marketing mà còn là cuộc đua ứng dụng cộng nghệ thông tin tiên tiến nhất.

Nguồn: Tạp chí Marketing số 53/2009